Sở hữu trí tuệ không chỉ bảo vệ thành quả nghiên cứu mà còn mở đường cho các sáng tạo bước ra thị trường. Những chính sách mới của Việt Nam trong lĩnh vực này đang tạo thêm cơ hội để đội ngũ nữ khoa học tham gia sâu vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế dựa trên tri thức.
ThS. Trịnh Thu Hải, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu, Đào tạo và Hỗ trợ tư vấn thuộc Cục Sở hữu trí tuệ
Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, sở hữu trí tuệ không chỉ là công cụ bảo vệ thành quả sáng tạo mà ngày càng trở thành nền tảng để thương mại hóa nghiên cứu, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Phát biểu tại Hội thảo quốc tế “Nữ khoa học hướng tới thị trường: Xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học trong nền kinh tế xanh, kinh tế số”, ThS. Trịnh Thu Hải, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu, Đào tạo và Hỗ trợ tư vấn thuộc Cục Sở hữu trí tuệ cho rằng, việc xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo dựa trên sở hữu trí tuệ sẽ mở ra cơ hội lớn cho đội ngũ nữ khoa học tham gia sâu hơn vào nền kinh tế xanh và kinh tế số.
Theo bà, nếu trong nền kinh tế công nghiệp, tài nguyên và vốn được xem là yếu tố quyết định thì trong nền kinh tế tri thức và kinh tế sáng tạo hiện nay, tài sản trí tuệ đã trở thành nguồn lực chiến lược. Các sáng chế, giải pháp công nghệ, phần mềm, dữ liệu hay thương hiệu không chỉ phản ánh năng lực sáng tạo mà còn tạo ra giá trị kinh tế lớn khi được bảo hộ và khai thác hiệu quả.
Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển dịch xanh và phát triển kinh tế số, sở hữu trí tuệ đóng vai trò như một “hạ tầng mềm” quan trọng. Đối với nền kinh tế xanh, đây là công cụ hữu hiệu để bảo vệ các sáng chế xanh, thúc đẩy nghiên cứu và phát triển các giải pháp tiết kiệm tài nguyên, sử dụng năng lượng tái tạo, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái. Đối với kinh tế số, sở hữu trí tuệ góp phần thiết lập môi trường cạnh tranh lành mạnh trên không gian mạng, bảo vệ các sản phẩm sáng tạo số, cơ sở dữ liệu lớn, giải pháp phần mềm và các loại tài sản vô hình khác.
“Trong xu hướng chuyển dịch xanh toàn cầu, tài sản trí tuệ không còn đơn thuần là công cụ phòng vệ pháp lý mà đã trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như của cả nền kinh tế”, bà Hải nhấn mạnh.
Hội thảo quốc tế “Nữ khoa học hướng tới thị trường: Xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học trong nền kinh tế xanh, kinh tế số”, ThS. Trịnh Thu Hải cho rằng sở hữu trí tuệ đang giữ vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo.
Theo đại diện Cục Sở hữu trí tuệ, Việt Nam đã xây dựng hệ thống pháp luật khá toàn diện nhằm bảo hộ và khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ. Nền tảng pháp lý được hình thành từ Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cùng nhiều quy định liên quan trong Bộ luật Hình sự, Luật Hải quan và Luật Cạnh tranh. Trong đó, Luật Sở hữu trí tuệ là đạo luật chuyên ngành điều chỉnh toàn diện các hoạt động xác lập, bảo hộ, khai thác và thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
Việt Nam đồng thời tham gia sâu rộng vào hệ thống sở hữu trí tuệ quốc tế thông qua Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, UKVFTA, RCEP hay Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Israel.
Những cam kết quốc tế này không chỉ giúp nâng cao tiêu chuẩn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mà còn tạo động lực thúc đẩy cải cách thể chế, tăng cường năng lực thực thi và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Bên cạnh đó, các nghị quyết lớn của Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế, hoàn thiện pháp luật và phát triển kinh tế tư nhân cũng đang tạo nền tảng chính sách quan trọng cho việc phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo dựa trên sở hữu trí tuệ.
Theo ThS. Trịnh Thu Hải, Chính phủ Việt Nam luôn nhất quán quan điểm coi bảo vệ sở hữu trí tuệ là một trong những trụ cột để xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, lành mạnh và thúc đẩy đổi mới sáng tạo thực chất.
Một trong những nội dung được quan tâm tại hội thảo là các chính sách cải cách mới của Việt Nam trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Theo đó, những quy định mới đang từng bước chuyển trọng tâm từ tư duy “bảo hộ quyền” sang “tài sản hóa, thương mại hóa và thị trường hóa” các kết quả nghiên cứu khoa học.
Đáng chú ý, Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong trong khu vực đưa các nội dung liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI) vào quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ. Các quy định mới ghi nhận cơ chế xác lập quyền trong trường hợp con người sử dụng AI như công cụ hỗ trợ sáng tạo, đồng thời cho phép sử dụng dữ liệu đã công bố phục vụ huấn luyện các hệ thống AI theo quy định của pháp luật.
Khung pháp lý mới cũng xác định quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản có thể tham gia các giao dịch dân sự, thương mại và đầu tư. Chủ sở hữu có thể sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn, thế chấp hoặc khai thác thương mại nhằm tạo nguồn lực cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Đối với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, cơ chế giao quyền tự động cho tổ chức chủ trì được đánh giá là bước đột phá quan trọng. Theo đó, các tổ chức có quyền đăng ký bảo hộ, chủ động quyết định phương thức khai thác và thương mại hóa kết quả nghiên cứu nhằm gia tăng giá trị tài sản trí tuệ.
Cùng với đó, thời gian thẩm định đơn đăng ký sở hữu công nghiệp tiếp tục được rút ngắn; trách nhiệm của các nền tảng số và đơn vị cung cấp dịch vụ trung gian trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường mạng cũng được tăng cường.
Các đại biểu chụp ảnh lựu niệm tại Hội thảo quốc tế “Nữ khoa học hướng tới thị trường: Xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học trong nền kinh tế xanh, kinh tế số”.
Dù có nhiều cơ hội mới, các nhà khoa học nữ vẫn đang đối mặt với không ít thách thức trên con đường thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Theo ThS. Trịnh Thu Hải, nhiều nữ trí thức phải đồng thời đảm nhiệm công việc nghiên cứu, quản lý, kinh doanh và trách nhiệm gia đình. Bên cạnh đó, không ít người còn thiếu kiến thức chuyên sâu về sở hữu trí tuệ, kỹ năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm tiếp cận công nghệ mới và năng lực vận hành các mô hình quản trị hiện đại.
Một trở ngại khác là việc kết nối giữa nhà khoa học với doanh nghiệp, nhà đầu tư và thị trường vẫn còn hạn chế. Nguồn lực kỹ thuật để đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững, đặc biệt là các tiêu chí ESG, cũng đang là thách thức đối với nhiều nhóm nghiên cứu.
Trước thực tế đó, Trung tâm Nghiên cứu, Đào tạo và Hỗ trợ tư vấn (COSTAS) đặt mục tiêu trong giai đoạn 2026–2030 trở thành đầu mối hỗ trợ kết nối hiệu quả giữa nữ khoa học và thị trường. Kế hoạch đề ra bao gồm việc hỗ trợ thương mại hóa 50 sản phẩm khoa học, xây dựng mạng lưới 500 nữ trí thức tham gia sâu vào nền kinh tế số và kết nối khoảng 10 dự án mỗi năm với doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Khẳng định cam kết đồng hành cùng đội ngũ nữ trí thức, ThS. Trịnh Thu Hải cho biết khung pháp lý về sở hữu trí tuệ của Việt Nam hiện đã sẵn sàng để bảo vệ và thúc đẩy các ý tưởng sáng tạo. Cục Sở hữu trí tuệ sẽ tiếp tục hỗ trợ tháo gỡ các rào cản pháp lý, tạo điều kiện để các nhà khoa học nữ tự tin đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường, đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của nền kinh tế xanh và kinh tế số.
Hoàng Toàn