Việt Nam đặt mục tiêu phát triển mạnh công nghiệp sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường giai đoạn 2026-2030, phấn đấu tăng 50% quy mô doanh nghiệp, từng bước thay thế tối thiểu 50% sản phẩm công nghệ sinh học nhập khẩu và nâng cao năng lực làm chủ công nghệ.
Trong giai đoạn 2026-2030, các sản phẩm công nghệ sinh học do doanh nghiệp trong nước phát triển sẽ thay thế ít nhất 50% sản phẩm nhập khẩu cùng chủng loại. (Ảnh minh hoạ)
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1466/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường, với định hướng đưa công nghiệp sinh học trở thành nền tảng thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Theo kế hoạch, công nghiệp sinh học sẽ giữ vai trò quan trọng trong phát triển nền nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng bền vững. Đồng thời, việc phát triển lĩnh vực này cũng góp phần nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ trong nông nghiệp và môi trường, phục vụ yêu cầu quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.
Trong giai đoạn 2026-2030, mục tiêu đặt ra là tăng 50% quy mô đầu tư và quy mô tăng trưởng của các doanh nghiệp công nghiệp sinh học; các sản phẩm công nghệ sinh học do doanh nghiệp trong nước phát triển sẽ thay thế ít nhất 50% sản phẩm nhập khẩu cùng chủng loại. Công nghiệp sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường dự kiến đóng góp khoảng 7% giá trị gia tăng của toàn ngành công nghiệp sinh học.
Kế hoạch cũng ưu tiên nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ chiến lược như công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến, công nghệ di truyền, công nghệ tế bào, chọn giống chính xác và chọn giống dựa trên hệ gen. Cùng với đó là phát triển các sản phẩm công nghệ cao gồm giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản thế hệ mới, vắc-xin, bộ sinh phẩm (KIT) chẩn đoán và nhiều sản phẩm sinh học phục vụ sản xuất.
Song song với hoạt động nghiên cứu, các công nghệ bảo quản và chế biến sâu đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu cũng sẽ được thúc đẩy nhằm phục vụ lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, chăn nuôi, thú y, thủy sản, lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học. Định hướng xuyên suốt là từng bước thay thế các sản phẩm có nguồn gốc hóa học cũng như giảm sự phụ thuộc vào hàng nhập khẩu.
Về phát triển nguồn lực, kế hoạch đặt mục tiêu đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao có khả năng tiếp nhận, làm chủ, chuyển giao và phát triển các công nghệ mới. Đồng thời, sẽ đầu tư xây dựng ít nhất 5 phòng thí nghiệm trọng điểm và 5 phòng thí nghiệm chuyên ngành đạt tiêu chuẩn quốc tế, được trang bị hiện đại để phục vụ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học ở quy mô công nghiệp.
Công nghiệp sinh học được kỳ vọng trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng của lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. (Ảnh minh hoa)
Đáng chú ý, việc hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo động lực cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghiệp sinh học, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp trong nước mở rộng sản xuất, thương mại hóa các sản phẩm công nghệ sinh học quy mô lớn.
Đối với giai đoạn 2031-2035 và tầm nhìn đến năm 2045, kế hoạch hướng tới làm chủ các công nghệ sinh học thế hệ mới, công nghệ sinh học chiến lược và công nghệ chỉnh sửa gen. Đây sẽ là nền tảng để phát triển các sản phẩm công nghệ sinh học quy mô công nghiệp, đáp ứng nhu cầu trong nước và mở rộng xuất khẩu.
Theo định hướng dài hạn, Việt Nam sẽ từng bước hình thành và phát triển thị trường công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, hướng tới trở thành quốc gia có nền công nghiệp sinh học phát triển, đồng thời là trung tâm sản xuất và cung cấp các dịch vụ công nghệ sinh học thông minh thuộc nhóm dẫn đầu khu vực châu Á.
Đến giai đoạn này, công nghiệp sinh học được kỳ vọng trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng của lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Quy mô đầu tư và tăng trưởng của doanh nghiệp công nghiệp sinh học dự kiến tăng khoảng 70%; các sản phẩm công nghệ sinh học trong nước sẽ thay thế tối thiểu 60% sản phẩm nhập khẩu cùng loại và đóng góp khoảng 15% giá trị gia tăng của ngành công nghiệp sinh học.
Võ Nga