Sau thời gian triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, nhiều bộ, ngành đã đạt những chuyển biến tích cực trong phát triển khoa học, công nghệ. Tuy nhiên, theo Ban Chỉ đạo của Chính phủ, quá trình thực hiện vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa phát huy lợi thế địa phương và thiếu liên kết hiệu quả giữa các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Ảnh minh họa
Việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong tư duy và cách tiếp cận phát triển khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số ở nhiều bộ, ngành. Theo Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển KHCN, ĐMST, chuyển đổi số và Đề án 06, các cơ quan đã thể hiện quyết tâm chính trị cao, chủ động điều chỉnh chiến lược quản lý, từng bước hình thành các định hướng phát triển phù hợp với chức năng của từng lĩnh vực.
Mỗi bộ, ngành đã xác định những trọng tâm riêng trong triển khai nhiệm vụ. Bộ Công Thương ưu tiên phát triển các công nghệ chiến lược phục vụ thương mại, logistics và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ. Bộ Nông nghiệp và Môi trường tập trung vào công nghệ sinh học, phát triển giống, vaccine, truy xuất nguồn gốc và chế biến sâu. Bộ Ngoại giao đẩy mạnh ngoại giao công nghệ nhằm thu hút nguồn lực quốc tế, trong khi Bộ Tư pháp thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong quy trình pháp lý. Nhiều bộ khác cũng tập trung xây dựng các nền tảng quản lý số và hoàn thiện hệ thống thể chế.
Một điểm đáng chú ý là sự thay đổi trong tư duy xây dựng chính sách. Thay vì chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước, nhiều bộ đã chủ động đề xuất tháo gỡ các rào cản pháp lý, xây dựng cơ chế thử nghiệm (sandbox) cho các mô hình kinh tế mới và công nghệ chiến lược.
Trong đó, Bộ Công Thương thúc đẩy cơ chế thử nghiệm chính sách phục vụ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ lõi; Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất cơ chế thử nghiệm trong hợp tác đầu tư và quỹ đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp sáng tạo; Bộ Y tế và Bộ Xây dựng cũng đưa các quy định về thử nghiệm sản phẩm, kỹ thuật mới vào quá trình hoàn thiện chính sách pháp luật.
Hoạt động nghiên cứu khoa học cũng đang từng bước dịch chuyển từ nghiên cứu hàn lâm sang làm chủ công nghệ chiến lược và đẩy mạnh ứng dụng thực tiễn. Các bộ đã cơ cấu lại nguồn lực theo hướng tập trung vào những lĩnh vực trọng điểm, đồng thời mở rộng hợp tác công - tư trong nghiên cứu. Nhiều cơ chế được đề xuất nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức khoa học công lập và trường đại học thành lập doanh nghiệp, góp vốn để thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ.
Cùng với đó, ngoại giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tiếp tục được chú trọng. Việc đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm và trung tâm đổi mới sáng tạo đạt chuẩn quốc tế được kỳ vọng sẽ giúp Việt Nam tiếp nhận, làm chủ các công nghệ tiên tiến, tạo nền tảng cho phát triển dài hạn.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả bước đầu, Ban Chỉ đạo của Chính phủ cho rằng việc triển khai Nghị quyết 57 vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là thiếu tính đồng bộ trong việc gắn kết định hướng phát triển KHCN với điều kiện và lợi thế của từng địa phương.
Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo, nhiều bộ, ngành vẫn xây dựng chính sách theo hướng thống nhất trên phạm vi cả nước. Mặc dù cách tiếp cận này giúp hình thành các tiêu chuẩn chung, nhưng lại chưa tạo được không gian để các địa phương khai thác thế mạnh riêng về tài nguyên, điều kiện tự nhiên, văn hóa hay nguồn lực nhằm phát triển các sản phẩm KHCN đặc thù.
Trong lĩnh vực xây dựng, Bộ Xây dựng tập trung nghiên cứu các công nghệ lõi như robot di động tự hành, thiết bị bay không người lái (UAV), hệ thống quản lý UAV quốc gia và camera AI. Đây đều là các công nghệ mang tính chiến lược quốc gia, được nghiên cứu tập trung và triển khai trên diện rộng, song chưa xuất phát từ nhu cầu hay lợi thế riêng của từng địa phương.
Tương tự, trong lĩnh vực văn hóa và du lịch, dù kế hoạch đã đề cập đến việc ứng dụng AI, thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) và dữ liệu lớn (Big Data), trọng tâm vẫn là xây dựng các nền tảng số dùng chung như nền tảng quản lý di sản văn hóa số hay nền tảng du lịch thông minh. Định hướng phát triển các sản phẩm KHCN gắn với đặc trưng tài nguyên, di sản và hệ sinh thái của từng địa phương vẫn chưa được thể hiện rõ.
Ban Chỉ đạo cũng cho rằng vai trò dẫn dắt của các bộ đối với địa phương chưa được phát huy đầy đủ. Trong nhiều trường hợp, địa phương chủ yếu thực hiện nhiệm vụ cung cấp dữ liệu, tiếp nhận công nghệ hoặc tham gia các mô hình thí điểm, thay vì trở thành chủ thể sáng tạo, phát triển các sản phẩm đổi mới sáng tạo dựa trên lợi thế nội sinh.
Điển hình, trong lĩnh vực công thương, việc ứng dụng Internet vạn vật (IoT) được các đơn vị chuyên môn của Bộ hướng dẫn triển khai tại các cụm công nghiệp thông qua hệ thống Sở Công Thương. Tuy nhiên, nguồn lực nghiên cứu vẫn chủ yếu tập trung tại các viện nghiên cứu trực thuộc Bộ để phát triển những công nghệ chiến lược như năng lượng mới, bán dẫn, vật liệu tiên tiến hay công nghệ lượng tử. Địa phương chưa được xác định là chủ thể phát triển các công nghệ này mà chủ yếu triển khai theo các tiêu chuẩn do Trung ương ban hành.
Trong lĩnh vực y tế, các định hướng đổi mới sáng tạo tập trung vào y học chính xác, công nghệ gen, tế bào gốc, in 3D cá thể hóa và thiết bị y tế hiện đại. Tuy nhiên, quá trình phát triển các công nghệ này vẫn chủ yếu được hoạch định ở cấp bộ, chưa gắn với nhu cầu và điều kiện đặc thù của từng vùng, từng địa phương.
Bên cạnh đó, cơ chế tài chính cũng được đánh giá còn thiên về tập trung nguồn lực ở Trung ương. Phần lớn ngân sách KHCN vẫn ưu tiên cho các viện nghiên cứu và trường đại học trực thuộc bộ để giải quyết các nhiệm vụ cấp quốc gia. Trong khi đó, các bộ chưa có cơ chế tài chính đủ linh hoạt để hỗ trợ trực tiếp những sáng kiến đổi mới sáng tạo xuất phát từ lợi thế của từng địa phương, khiến nguồn lực nghiên cứu và nhân lực chất lượng cao tiếp tục tập trung tại các trung tâm lớn.
Một hạn chế khác là mô hình liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu - trường đại học và doanh nghiệp vẫn chưa hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Nhà nước chưa đặt hàng nghiên cứu một cách rõ ràng; doanh nghiệp chưa tham gia ngay từ khâu xác định bài toán nghiên cứu; còn các viện, trường vẫn thiếu động lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Nhiều địa phương cũng chưa xây dựng được cơ chế thu hút các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ cùng tham gia giải quyết những bài toán phát triển của địa phương.
Từ những tồn tại trên, Ban Chỉ đạo yêu cầu các bộ, ngành phải đổi mới căn bản tư duy quản lý, chấm dứt tình trạng xây dựng kế hoạch mang tính phong trào, lấy hiệu quả ứng dụng, sản phẩm đầu ra và khả năng thương mại hóa làm thước đo.
Theo định hướng này, các bộ cần chuyển từ vai trò ban hành kế hoạch sang thiết kế chuỗi giá trị, phân vai cho từng địa phương, dẫn dắt phát triển công nghệ và mở rộng thị trường. Đồng thời, các địa phương phải chủ động lựa chọn đúng sản phẩm, đúng lợi thế và đúng doanh nghiệp để phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng thực chất, tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế - xã hội.
PV