Dự thảo Luật Tài nguyên, Môi trường Biển và Hải đảo (sửa đổi) được xây dựng nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tổng hợp tài nguyên và không gian biển, tạo nền tảng pháp lý cho phát triển kinh tế biển bền vững, đồng thời bổ sung nhiều chính sách mới về sử dụng khu vực biển, bảo vệ môi trường và thu hút đầu tư.
Đề xuất hoàn thiện khung pháp lý quản lý không gian biển, thúc đẩy kinh tế biển. (Ảnh minh hoạ)
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 cùng các văn bản hướng dẫn đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo trong gần một thập kỷ qua.
Việc triển khai luật đã góp phần hình thành các công cụ quản lý tổng hợp về biển, nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, khai thác hợp lý tài nguyên, phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia trên biển.
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, quá trình chuyển đổi số, sự phát triển của khoa học - công nghệ, việc triển khai Quy hoạch không gian biển quốc gia cũng như sự xuất hiện của nhiều ngành kinh tế biển mới đã đặt ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung nhiều quy định để đáp ứng thực tiễn quản lý.
Dự thảo gồm 8 chương với 85 điều, trong đó bổ sung một chương hoàn toàn mới về quản lý và sử dụng không gian biển. Chương này tạo cơ sở pháp lý cho việc phân bổ không gian biển hợp lý, hạn chế xung đột giữa các ngành, địa phương và các chủ thể khai thác biển, đồng thời bảo đảm quyền tiếp cận biển hợp pháp của người dân và cộng đồng.
Các nội dung mới bao gồm quy hoạch không gian biển quốc gia; nguyên tắc quản lý, sử dụng không gian biển; cơ chế giải quyết chồng lấn trong khai thác; phân định trách nhiệm quản lý hành chính trên biển; quản lý đảo nhân tạo và công trình trên biển; quyền tiếp cận biển của người dân; quy định về sử dụng chung và sử dụng đa mục đích khu vực biển.
Dự thảo cũng bổ sung nhóm quy định về giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển; xác lập quyền sử dụng khu vực biển; quy định các trường hợp giao, cho thuê, đấu giá quyền sử dụng khu vực biển; thời hạn sử dụng, chế độ tài chính, giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính.
Cùng với đó là các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển, cũng như nguyên tắc chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển; chuyển mục đích sử dụng; thu hồi, bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi quyền sử dụng khu vực biển.

Một điểm đáng chú ý của dự thảo là bổ sung các cơ chế ưu đãi và hỗ trợ phát triển các hoạt động kinh tế trên biển và hải đảo. Theo đó, dự thảo quy định nguyên tắc, tiêu chí áp dụng ưu đãi; xác định các đối tượng, dự án và mô hình được ưu tiên hỗ trợ; đồng thời đưa ra nhiều hình thức hỗ trợ trực tiếp, hỗ trợ phát triển các mô hình kinh tế mới và không gian phát triển trên biển.
Ngoài ra, dự thảo đề cập đến cơ chế dành cho nhà đầu tư chiến lược, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ biển; cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, phát triển tài chính biển xanh, hình thành quỹ không gian biển, tăng cường phối hợp liên ngành và hỗ trợ cộng đồng ven biển, hải đảo.
Đối với khu vực ven biển, dự thảo luật bổ sung các quy định cụ thể hơn về bảo vệ tài nguyên và môi trường vùng bờ, quy định các hoạt động bị cấm hoặc chỉ được thực hiện khi đáp ứng điều kiện, đồng thời bổ sung quy định về khoảng lùi xây dựng trong vùng bờ.
Theo cơ quan soạn thảo, các quy định này nhằm tăng cường phòng ngừa suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường và xói lở bờ biển, bảo vệ hệ sinh thái ven biển, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để quản lý hiệu quả hoạt động đầu tư, xây dựng và khai thác tại các khu vực nhạy cảm, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế biển theo hướng xanh và bền vững./.
Võ Nga