BS. Phạm Thị Lộc đi vào một lĩnh vực khó, đòi hỏi độ chính xác cao và nhiều năm tích lũy: nghiên cứu ung thư và y học tái tạo. Từ những ca bệnh cụ thể đến các mô hình gen trong phòng thí nghiệm, các công trình của chị đang từng bước mở ra hướng tiếp cận mới trong chẩn đoán sớm và điều trị cá thể hóa tại Việt Nam.
Con đường không dễ nhưng rõ đích
Xuất phát điểm của TS. BS Phạm Thị Lộc là một bác sĩ, thạc sĩ nội khoa, chuyên ngành huyết học truyền máu. Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2011, chị vừa giảng dạy, vừa làm việc tại Trung tâm Huyết học – Truyền máu của Bệnh viện Hữu nghị Việt - Tiệp. Chính môi trường bệnh viện đã đặt ra những câu hỏi mà y học hiện tại chưa giải đáp trọn vẹn.
TS. BS Phạm Thị Lộc trong giai đoạn nghiên cứu tại Đại học Kanazawa (Nhật Bản), nơi chị tiếp cận các công nghệ chỉnh sửa gen và sinh học phân tử tiên tiến. Ảnh: NVCC
Những bệnh nhân mắc bệnh máu ác tính, những ca lơ xê mi cấp tính diễn biến nhanh, hay những trường hợp điều trị kéo dài nhưng hiệu quả hạn chế khiến chị trăn trở. Điều đó dẫn chị đến quyết định đi sâu vào nghiên cứu, thay vì chỉ dừng ở điều trị.
Từ năm 2018 đến 2022, TS. BS Phạm Thị Lộc tiếp tục theo đuổi chương trình tiến sĩ tại Đại học Kanazawa (Nhật Bản), tập trung vào lĩnh vực ung thư và tế bào gốc. Đây là bước ngoặt quan trọng, giúp chị tiếp cận trực tiếp với những công nghệ sinh học tiên tiến như chỉnh sửa gen, nuôi cấy tế bào và phân tích sinh học phân tử.
Một trong những điểm đáng chú ý trong hành trình khoa học của TS. Phạm Thị Lộc là các nghiên cứu không dừng lại ở công bố mà hướng tới ứng dụng cụ thể. Trong giai đoạn 2022–2023, chị là chủ nhiệm dự án chuyển giao công nghệ CRISPR/Cas9 giữa Nhật Bản và Việt Nam. Đây là công nghệ chỉnh sửa gen vừa được giải nobel năm 2020 cho phép can thiệp chính xác vào ADN, mở ra khả năng xác định nguyên nhân gây bệnh ở cấp độ phân tử. Với bệnh bạch cầu cấp tính, việc xác định đúng đột biến gen có thể quyết định trực tiếp đến phác đồ điều trị. Cùng với đó, chị là nghiên cứu viên chính, thư kí khoa học cho đề tài cấp thành phố về sàng lọc gen kiểm soát ung thư tại Hải Phòng. Mục tiêu không chỉ là phát hiện sớm mà còn tìm ra các yếu tố then chốt giúp nâng cao hiệu quả điều trị.
TS.BS Phạm Thị Lộc nhận bằng giáo sư hợp tác tại Đại học Kanazawa.
Ở mảng y học tái tạo, TS. BS Phạm Thị Lộc với vai trò chủ nhiệm đề tài tối ưu hóa quy trình chế tạo KIT huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) để điều trị bệnh lý xương khớp. Đây là một ứng dụng gần với thực tiễn, có khả năng triển khai tại các cơ sở y tế trong nước với chi phí hợp lý hơn so với công nghệ nhập khẩu. Từ đó thúc đẩy để tài cấp thành phố cho xây dựng quy trình kết hợp PRP và oxy cao áp trong điều trị thoái hoá khớp gối trong vai trò nghiên cứu viên chính và thư kí khoa học, hỗ trợ tình trạng đau khớp gối ở người già do thoái hoá khớp.
Các công trình quốc tế của chị cũng tập trung vào các cơ chế điều trị mới. Năm 2022, nghiên cứu về vai trò của RHEB trong bệnh lơ xê mi cấp tính tế bào T được công bố trên tạp chí khoa học quốc tế. Một nghiên cứu khác về cơ chế lysophagy trong ung thư não cũng góp phần mở rộng hướng tiếp cận điều trị.
Những ghi nhận từ cộng đồng khoa học
Hiện nay, TS. BS Phạm Thị Lộc đang tham gia và chủ trì nhiều dự án nghiên cứu giai đoạn 2023–2027, tập trung vào ba hướng chính. Đó là ứng dụng CRISPR/Cas9 để xác định gen gây bệnh trong bạch cầu cấp: Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong sàng lọc và tối ưu hóa thuốc điều trị ung thư Và phát triển vaccine điều trị ung thư theo hướng cá thể hóa. Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận liên ngành. Các nghiên cứu không chỉ dựa vào sinh học mà kết hợp tin sinh học, giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) và trí tuệ nhân tạo. Nhờ đó, khả năng phát hiện biomarker và thiết kế phác đồ điều trị được nâng cao đáng kể.
TS. BS Phạm Thị Lộc cùng cộng sự chia sẻ về các dự án ứng dụng CRISPR và AI trong nghiên cứu ung thư tại Hải Phòng và nhận được sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng các nhà khoa học.
Trong các dự án này, mục tiêu không chỉ là công bố khoa học mà hướng đến ba giá trị cụ thể, là chẩn đoán sớm hơn các bệnh ung thư ác tính, cá thể hóa điều trị theo từng bệnh nhân và giảm chi phí điều trị bằng cách làm chủ công nghệ. Đây là những vấn đề rất thực tế với hệ thống y tế Việt Nam, nơi chi phí và khả năng tiếp cận công nghệ vẫn còn là rào cản lớn.
Song song với nghiên cứu, TS. BS Phạm Thị Lộc vẫn giảng dạy tại Trường ĐH Y Dược Hải Phòng. Nhiều lớp thạc sĩ, bác sĩ đã trưởng thành dưới sự dẫn dắt của chị. Hiện, chị hướng dẫn 2 nghiên cứu sinh trong lĩnh vực vaccine trị liệu ung thư. Đây là một hướng nghiên cứu mới, đòi hỏi nền tảng liên ngành và khả năng cập nhật nhanh công nghệ.
Việc đào tạo không chỉ dừng ở truyền đạt kiến thức mà còn xây dựng năng lực nghiên cứu độc lập. Các nghiên cứu sinh được tiếp cận trực tiếp với các công nghệ như phân tích dữ liệu gen, thiết kế kháng nguyên đặc hiệu và đánh giá đáp ứng miễn dịch.
Thông qua đó, một đội ngũ nghiên cứu trẻ đang được hình thành, có khả năng tiếp tục phát triển các hướng nghiên cứu dài hạn trong nước.
Trong thời gian làm nghiên cứu tại Nhật Bản, TS. BS Phạm Thị Lộc nhận hai giải thưởng dành cho báo cáo viên và nghiên cứu viên xuất sắc vào các năm 2021 và 2022. Đây là những ghi nhận cho năng lực nghiên cứu trong môi trường cạnh tranh cao.
Năm 2025, chị được Đại học Kanazawa phong tặng danh hiệu giáo sư hợp tác. Danh hiệu này không chỉ mang tính cá nhân mà còn mở ra cơ hội hợp tác giữa các cơ sở nghiên cứu Việt Nam và Nhật Bản.
Các mạng lưới hợp tác quốc tế với Nhật Bản, Đài Loan và Australia giúp các dự án của chị tiếp cận được công nghệ lõi, đồng thời đảm bảo tiêu chuẩn nghiên cứu theo chuẩn quốc tế.
Điểm đáng chú ý trong hành trình của TS. BS Phạm Thị Lộc không nằm ở số lượng công trình mà ở tính nhất quán. Từ những nghiên cứu ban đầu về huyết học, đến công nghệ gen, rồi mở rộng sang AI và vaccine, tất cả đều xoay quanh một mục tiêu: nâng cao hiệu quả điều trị bệnh.
Chị không chọn con đường dễ, cũng không đi theo các đề tài ngắn hạn. Các dự án thường kéo dài nhiều năm, đòi hỏi sự kiên trì và khả năng phối hợp nhiều nhóm nghiên cứu. Như chị từng chia sẻ trong một hội thảo chuyên ngành: “Nghiên cứu y sinh không thể vội. Quan trọng là kiên trì làm đúng và làm đến cùng để kết quả có thể dùng được”.
Trường Giang